Tài liệu cũ của Saigon Echo
từ 2008 - 2012
Play
Giám Đốc: Tiến Sĩ Trần An Bài
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Chính sách bá quyền Đại Hán

linhtinh RongVN

Mới đây, các học giả trong Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ đã phê phán chính sách bá quyền của Trung Quốc là Chính Sách Phát Xít Cổ Điển. (Bejiing Embraces Classical Fascism)

Thay vì tiếp thu chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng theo sự mong đợi của mọi người, giới lãnh đạo Trung Quốc càng ngày càng trở nên giáo điều và bảo thủ. Cũng như tại Ý Đại Lợi, 50 năm sau Cách Mạng Phát Xít, Mussolini đã chết nhưng Nhà Nước Ý vẫn giữ chế độ độc tài và chủ yếu vẫn đàn áp chính trị. Để biện minh cho chế độ, họ thường xuyên nêu lên quan hệ về sự vinh quang cổ xưa của “Dân Tộc Ý Vĩ Đại”. Từ thế kỷ thứ nhất Đế Quốc La Mã đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng Biển Địa Trung Hải chạy từ Tây Âu (Tây Ban Nha) qua Tây Á (Thổ Nhĩ Kỳ). Họ gọi đó là biển lịch sử hay Biển Của Chúng Tôi (Mare Nostrum, Our Sea).

Ngày nay, phỏng theo Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển Ý, Bắc Kinh cũng đề xướng “Dân Tộc Hán Vĩ Đại” nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán. Họ gọi Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà giới truyền thông gọi là Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn) là Biển Lịch Sử chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á.

Với “Tứ Hiện Đại Hóa” Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng về kinh tế và lãnh thổ. Đồng thời tăng cường sức mạnh quân sự để hy vọng có ngày đủ phương tiện lọai trừ hay ngăn cản sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Trong khi chờ đợi, họ phóng kim ngân thu nhân tâm, vận dụng truyển thông để tranh thủ cảm tình và sự thán phục của các quốc gia trên thế giới. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, Trung Quốc sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với Thế Giới Dân Chủ. Họ kỳ vọng rằng, với sự quyết tâm, phát triển kinh tế và quân sự, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Chủ trương cố hữu của Bắc Kinh được quy định như sau: Những lãnh thổ trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa nay phải trả về cho (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man. Đó là nhận định của Tiến Sĩ Lo Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. (Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes, Routledge London, 1989).

Trong Chiến Tranh Biên Giới Ấn-Hoa năm 1962 Trung Quốc đòi chủ quyền vùng biên giới Ấn Độ rộng 90 ngàn cây số vuông thuộc tiểu bang Arunachal Pradesh, phía Đông Bắc Bhutan và Bangladesh.

Giáo Sư C. P. Fitzerald cũng quan niệm như Tiến Sĩ Lo Chi-Kin:

“It is the belief of the Chinese that territory once won for civilization must not be given back to barbarism. Therefore territory which was once Chinese must forever remain so, and, if lost, must be recovered at the first opportunity”. C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Foreign Relations, 1963.

Chính Sách Bá Quyền được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ và lời tuyên bố của Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe các Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Hồng Kông, Macao, cùng những đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Theo Mao Trạch Đông: “sau khi đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh võ trang, các đế quốc đã thôn tính nhiều nước phụ dung của Trung Quốc. Nhật Bản chiếm Triều Tiên, Đài Loan, các đảo Ryukyu, Bành Hồ, và Port Arthur; Anh Quốc chiếm Miến Điện, Bhutan, Nepal và Hồng Kông; Pháp chiếm “An Nam”, và ngay cả một quốc gia vô nghĩa như Bồ Đào Nha cũng chiếm Macao”.

(In defeating China in war, the imperial states have taken away many Chinese dependent states and a part of her territories. Japan took away Korea, Taiwan, the Ryukyu Islands, the Pescadores and Port Arthur; Britain seized Burma, Bhutan, Nepal and Hongkong; France occupied “Annam”; and even an insignificant country like Portugal took Macao).

Nhận định nói trên của họ Mao đã yểm trợ cho chính sách thổ địa của Trung Hoa với quan niệm cực đoan cho rằng, về phương diện lịch sử và văn hóa, bất cứ lãnh thổ nào trước kia thuộc ảnh hưởng Trung Quốc hiện bị các đế quốc (Tây Phương) xâm chiếm, nay phải giao hoàn cho Trung Quốc.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N., (một năm trước khi Lưu Bang Hán Cao Tổ thiết lập Nhà Tây Hán năm 206 Trước C.N.) Nước Nam Việt bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc rộng lớn với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam. Năm 181 Trước C. N., sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa, Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt Hoàng Đế, ngang hàng với Hán Cao Tổ tại miền Bắc. Năm 157 Hán Văn Đế sai Lục Giả đưa quốc thư khuyến dụ Triệu Vũ Đế từ bỏ đế hiệu với lời cam kết sẽ để Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị vùng trung nguyên Trung Quốc từ Ngũ Lĩnh đến bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã phản bội lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương nhà Tây Hán như Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế. Và đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa khác biệt với các dân tộc du mục miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (Had Nan Yueh remained independent, it is very possible a separate culture would have arisen in the south, and the Chinese might never have established their influence in the valley of West River. C. P. Fitzgerald: China, A Short Cultural History, Oxford University Press 1953, p.184).

Điều nghịch lý là, dầu quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, Trung Quốc không bao giờ dám công khai đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

(Ironically, despite most of the existing studies having found in favour of China’s position over the islands, it appears that China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration. Chi-Kin Lo. Ibid).

Ngày nay chúng ta thách thức Trung Quốc công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài, hòa giải hay tham vấn theo thủ tục quốc tế (international litigation, arbitration, mediation or judicial consultation).

Giáo Sư Fairbank tại Đại Học Harvard và Giáo Sư Fitzgerald tại Đại Học Oxford cho rằng Trung Quốc vẫn chủ trương duy trì một trật tự thế giới nhằm tái lập vai trò bá chủ truyền thống của họ. Quá trình lịch sử của Trung Quốc đã ảnh hưởng quyết định đến chính sách đối ngoại hiện nay của Bắc Kinh. Họ chỉ giảo hoạt nương theo trào lưu tiến hóa lịch sử để duy trì địa vị và uy thế, bất kể những mục tiêu tinh thần của Liên Hiệp Quốc như bình đẳng, hợp tác và hữu nghị giữa các quốc gia hội viên trên thế giới. (C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the World: Oxford University Press 1964: 68-72. J. K. Fairbank, The Chinese World Order, Harvard University Press, 1968 and China’s World Order, Encounter, December 1968:14-20).

Hiện nay, tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn và coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau Thế Chiến II, nhất là từ khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển tại Montego Bay, Jamaica ngày 10-12-1982. Công ước này đã được phê chuẩn để có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

Vấn Đề Hoàng Sa Trường Sa Theo Công Pháp Quốc Tế

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải được hưởng quy chế Thềm Lục Địa 200 hải lý (370km) để thăm dò và khai thác dầu khí. Đây là chủ quyền chuyên biệt (sovereign exclusive right), không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị (occupation, exploration or assertion of right). Mọi sự tự tiện chiếm cứ của ngoại bang dầu có võ trang hay không đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực (các Điều 77 và 81).

Về mặt địa lý, tại quần đảo Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý, và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy quần đảo Hoàng Sa nằm trong Thềm Lục Địa 200 hải lý của Việt Nam.

Về mặt địa chất, các chuyên gia quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển, đã lập phúc trình kết luận rằng: “Về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Về địa hình đáy biển Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp lục địa Việt Nam.

Vì đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo dài ra ngoài biển nên chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển, Việt Nam có triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý (370km) thành Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng có thể đến 350 hải lý (650km).

Trong khi đó từ Hoàng Sa về lục địa Trung Hoa có một rãnh biển sâu tới 2,300m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Trong trường hợp này Trung Hoa không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng. (Extended Continental Shelf). (Bản Phúc Trình về Hoàng Sa của Tiến Sĩ Krempf lập trong hai năm 1925-1927 hiện được lưu trữ tại Văn Khố Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris).

Tại Trường Sa cũng vậy, tại Bãi Thanh Long Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, độ sâu chỉ tới 400m, và tại đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, cũng như Hoàng Sa, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Theo quan điểm của các Luật Sư Covington và Burling trong Bản Tường Trình nay 19- 6-1995 gửi Chính Phủ Việt Nam, quần đảo Trường Sa có triển vọng được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lý.

Trong khi đó từ Trường Sa về bờ biển Quảng Đông có một rãnh biển sâu tới 4,550m. Như vậy các đảo Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Và Trung Quốc không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lý. Dầu sao, trong mọi trường hợp, khoảng cách từ Hoa Lục tới đảo Trường Sa là 750 hải lý (quá xa tầm 350 hải lý Thềm Lục Địa Mở Rông nếu có).

Hơn nữa, về mặt địa lý, Bãi Thanh Long Tứ Chính và đảo Trường Sa chỉ cách lục địa Việt Nam từ 150 đến 220 hải lý. Trong khi đó quần đảo Trường Sa cách lục địa Trung Hoa từ 550 đến 800 hải lý nên không nằm trong thềm lục địa Trung Hoa.

Ngày 14-7-1995 nhân danh Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt Nam tại California Luật Sư Nguyễn Hữu Thống đã gửi văn thư cho 7 vị nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) yêu cầu các quốc gia duyên hải Biển Đông Nam Á đưa vụ tranh chấp ra trước Tòa Án Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay Tòa Án Quốc Tế The Hague để phân định chủ quyền các hải đảo và các vùng hải phận của các quốc gia duyên hải. Đồng thời đổi danh xưng Biển Nam Hoa thành Biển Đông Nam Á. Vì Biển Hoa Nam có thể được giải thích sai lầm là biển của nước Trung Hoa về phía nam.

Trong Bản Tường Trình nạp tại Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc ngày 11- 5-2009, Chính Phủ Bắc Kinh cố tình đề cập đến hải phận trên bản đồ Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn mà họ gọi là Biển Lịch Sử. Chứ không vẽ Thềm Lục Địa Mở Rộng theo các tiêu chuẩn luật định về khoa học và kỹ thuật như Quy Chế Liên Hiệp Quốc đòi hỏi. Do đó Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa đã bác bỏ không cứu xét đơn thỉnh nguyện năm 2009 của Bắc Kinh.

Lưỡi Rồng Trung Quốc

Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò) chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á. Nó nằm sát bờ biển các quốc gia duyên hải, chỉ cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lý, và cách Phi Luật Tân và Mã Lai 25 hải lý. Như vậy nó tước đoạt ít nhất 160 hải lý của Thềm Lục Địa Việt Nam, 170 hải lý của Thềm Lục Địa Nam Dương, và 175 hải lý của các Thềm Lục Địa Phi Luật Tân và Mã Lai. Đây hiển nhiên là sự vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển dành chủ quyền chuyên biệt cho các quốc gia duyên hải như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương được hưởng tối thiểu 200 hải lý Thềm Lục Địa Pháp Lý để thăm dò và khai thác dầu khí.

Theo Học Giả Mark J. Valencia tại Viện Hải Học Đông Tây Hawaii (East-West Institute) yêu sách của Trung Quốc về Biển Lịch Sử không được Luật Pháp và Tòa Án chấp nhận. Ngày nay càng ngày dư luận quốc tế càng phê phán và chế giễu Lưỡi Rồng Trung Quốc là khôi hài và lố bịch (China’s claim is being increasingly criticized and even ridiculed: China and the South China Sea Disputes, Mark J. Valencia, Oxford University Press. October 1995).

Mặc dầu vậy, từ 1955, để phục hồi Chủ Nghĩa Bá Quyền, Bắc Kinh lại nêu lên thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền lãnh thổ tại vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh Lưỡi Bò Trung Quốc rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Họ cho đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”.

Về điểm này chúng ta nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng: Trong thế kỷ này và dưới vòm trời này, không có điều gì, việc gì, hay vấn đề gì là bất khả tranh nghị! Về mặt tinh thần, văn hóa và đạo lý, Trung Quốc không thể nói một đàng làm một nẻo. Họ phải tôn trọng danh dự quốc gia và chữ ký của họ trong các Công Ước Quốc Tế. Họ phải chấp nhận công khai hóa vụ tranh chấp và phải đưa ra trước thanh thiên bạch nhật những tài liệu và quan điểm cho biết tại sao và căn cứ vào đâu mà đòi tước đoạt chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia Đông Nam Á tại các thềm lục địa như đã quy định trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký kết tham gia với tư cách một trong Ngũ Cường hội viên thường trực Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết? Nếu không đưa ra sự giải thích hợp lý và các cơ sở pháp lý thì Trung Quốc vẫn chỉ là kẻ sử dụng Luật Rừng Xanh theo chủ trương Mạnh Được Yếu Thua và Cá Lớn Nuốt Cá Bé. Để tước đoạt 4/5 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Việt Nam, đồng thời tước đoạt 7/8 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Phi Luật Tân và Mã Lai.

Hơn nữa, chiếu các Điều 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, chủ quyền của các quốc gia duyên hải tại Thềm Lục Địa có tính tuyệt đối và chuyên biệt. Bất cứ sự xâm phạm nào của ngoại bang dầu là xâm chiếm võ trang hay không võ trang cũng đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực. Cũng như việc Nhật Bản đã chiếm cứ bất hợp pháp các hải đảo và hải phận tại Hoàng Sa và Trường Sa thời Thế Chiến II từ 1938 đến 1945.

Chắc hẳn Trung Quốc cũng hay biết rằng Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 là một văn kiện chính sử mà 159 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đã ký kết nên có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực thi.

Trung Quốc không thể tự coi mình là một ngoại lệ bằng cách ban hành Luật Biển Quốc Nội năm 1992 (Domestic Law of the Sea) để mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ (Territorial Sea),Vùng Tiếp Cận (Contiguous Zone) và hải phận, và coi Lưỡi Bò Trung Quốc là “biên thùy chiến lược” của đảo Hải Nam. Tuy nhiên biên thùy này cách lục địa Trung Hoa cả ngàn cây số nên không thể coi là biên thùy cho một hải đảo hay một lục địa.

Chiếu nguyên tắc “các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng” (Rule Pacta Sunt Servanda), Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties 1969) quy định như sau: “Các hiệp ước quốc tế có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình tuân thủ”. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế (The United Nations International Law Commission) coi đây là “một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế”.

Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội (Rule of Supremacy of International Law), các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế. Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. Sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, 10 năm sau, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ, Vùng Tiếp Cận và hải phận để xâm phạm chủ quyền chuyên biệt tại các Thềm Lục Địa của Việt Nam, Mã Lai và Phi Luật Tân.

Ngoài ra, như đã trình bày, ranh giới Lưỡi Bò Trung Quốc tại Biển Nam Hoa không thể coi là biên thùy chiến lược của đảo Hải Nam hay của Hoa Lục. Vì, theo định nghĩa, biên thùy phải nằm sát hải đảo hay đất liền.

Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận và hải đảo, về mặt tố tụng, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức điều giải ôn hòa như hòa giải, thương nghị hay trọng tài trước khi nội vụ được thụ lý bởi các tòa án quốc tế.

Ngoài Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, còn có rất nhiều tài liệu lịch sử rút ra từ chính sử Trung Quốc theo đó chủ quyền của Việt Nam tại các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa đã được thừa nhận bởi các quốc gia trên thế giới kể cả Trung Quốc.

Trung Quốc Khước Từ Chủ Quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa trong Tuyên Cáo Cairo 1943

Trong khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, năm 1943, ba cường quốc đồng minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã hội nghị tại Cairo (Ai Cập), và đã ký Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 trong đó có đoạn như sau:

“Đối tượng của các quốc gia đồng minh là tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các lãnh thổ và hải đảo tại Thái Bình Dương mà Nhật đã cưỡng chiếm từ khi khởi sự Thế Chiến I. Tất cả các lãnh thổ và hải đảo mà Nhật Bản đã chiếm đoạt của nhân dân Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ phải giao hoàn cho Trung Hoa Dân Quốc”. Điều đáng lưu ý là, tại Hội Nghị Cairo Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không đòi Hoàng Sa và Trường Sa. Và như vậy đã khước từ chủ quyền tại hai quần đảo này.

(U. N. Treaty Series, American Policy 1950-1955).

Theo công pháp quốc tế Tuyên Cáo Cairo 1943 là một hiệp ước quốc tế tạo nên những nghĩa vụ quốc tế áp dụng cho các quốc gia liên hệ. Nó có hiệu lực cưỡng hành đối với Trung Quốc, dầu là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là quốc gia kế thừa chủ quyền. Đặc biệt là, trong hiện vụ, ngày 4-12-1950, Chu Ân Lai, lúc này là ngoại trưởng, cũng đã tuyên bố tán thành Bản Tuyên Cáo Cairo 1943 là văn kiện lịch sử quốc tế mà Hoa Kỳ, Anh Quốc và Trung Quốc đã ký kết để làm căn bản cho Hòa Ước với Nhật Bản (Hòa Ước San Francisco ngày 8-9-1951). (Chou En Lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan. People’s China, 12-16-1950).

Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951 Thừa Nhận Chủ Quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị để ký Hòa Ước Cựu Kim Sơn ngày 8-9-1951. Mục đích để chấm dứt tình trạng chiến tranh, phục hồi và tái thiết Nhật Bản nhằm xây dựng hòa bình thế giới trong tinh thần hòa giải, hợp tác và hữu nghị theo tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và phỏng theo Kế Hoạch Marshall được thi hành từ 1947 để tái thiết Âu Châu.

Năm 1949 Đảng Cộng Sản Trung Quốc cướp chính quyền bằng võ trang tại Hoa Lục. Vì vậy, chiếu Chủ Thuyết Stimson ban hành năm 1931 trong vụ Mãn Châu Quốc, Chính Phủ Bắc Kinh không được các Quốc Gia Đồng Minh Tây Phương thừa nhận.

Trong khi đó, ngày 8-3-1949, Pháp ký với Quốc Gia Việt Nam Hiệp Định Elysee để trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam. Ngày 23- 4-1949, chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ thuộc địa để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ đó Việt Nam có tư cách pháp lý để đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Với tư cách này Việt Nam được mời tham dự Hội Nghị San Francisco 1951.

Ngày 12-7-1951 Ban Tổ Chức Hội Nghị San Francisco phổ biến bản Dự Thảo Hòa Ước trong đó Điều 2 về Lãnh Thổ (Territory) đề cập đến những vấn đề chủ yếu như sau:

- Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ [để giao hoàn cho Trung Quốc].

- Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [để giao hoàn cho Việt Nam].

Đây là một sự thật lịch sử và một quyết định hợp lý.

Ngày 5-9-1951, trong phiên Khoáng Đại thứ 5, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đệ trình Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghị trao Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) cho Trung Quốc. Tuy nhiên Tu Chính Án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và 1 phiếu trắng.

Ngày 7-9-1951, trong phiên Khoáng Đại thứ 7, Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và không gặp sự phản kháng nào của 50 quốc gia tham dự Hội Nghị (kể cả Liên Sô).

Với sự công bố chủ quyền của Việt Nam về Hoàng Sa Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham dự Hội Nghị San Francisco 1951, chúng ta khẳng định rằng: Từ 1951 các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, chứ không thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Ba năm sau Hội Nghị San Francisco 1951, Hội Nghị Geneva 1954 một lần nữa đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hiệp Định Geneva 1954 Minh Thị Xác Nhận các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Chủ Quyền Lãnh Thổ của Việt Nam

Tháng 7-1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa, đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thật vậy:

a). Điều 4 Hiệp Định Geneva 1954 quy định như sau:

“Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (Vĩ Tuyến 17) kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.

“Lực lượng Liên Hiệp Pháp (gồm có Quốc Gia Việt Nam, Pháp và đồng minh) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tại phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17).

“Quân đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt) phải rút khỏi tất cả các hải đảo phía Nam giới tuyến” (Vĩ Tuyến 17) nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 7, từ Quảng Trị xuống Nam Cà Mau).

Do đó chiếu Hiệp Định Geneva 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa vì tọa lạc về phía nam Vĩ Tuyến 17. (Từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 7: Quảng Trị-Nam Cà Mâu). (Từ 1955 Quốc Gia Việt Nam thay đổi chính thể và lấy quốc hiệu là Việt Nam Cộng Hòa).

Vì Bắc Việt không có chủ quyền lãnh thổ từ Vĩ Tuyến 17 vào Nam, (nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) nên Chính Phủ Hà Nội không có tư cách sở hữu chủ để chuyển nhượng vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa cho bất cứ quốc gia đệ tam nào, kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc. Hậu quả là Công Hàm Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 không có giá trị và không có hiệu lực pháp lý.

b). Hơn nữa chiếu Điều 24 Hiệp Định Geneva 1954 Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các lực lượng vũ trang của đôi bên. Lực lượng vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của bên kia và không có hành động nào chống phá hay phong tỏa (bên kia), danh từ lãnh thổ bao gồm cả hải phận và không phận”.

Căn cứ vào những tài liệu lịch sử nói trên, Trung Quốc đã ý thức sự yếu kém của họ về cả ba mặt pháp lý, địa lý và lịch sử. Do đó họ không bao giờ dám công khai thảo luận về vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải. Họ thường tránh né và cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị. Lý do là vì họ không có tài liệu hay lý lẽ gì để đưa ra tranh nghị công khai dưới thanh thiên bạch nhật trong tinh thần chính đại quang minh.

Tất cả lý lẽ và lập trường của Trung Quốc chỉ thu gọn trong câu: “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc”. Cách đây 2000 năm, trong thế kỷ thứ nhất, Đế Quốc La Mã cũng đã từng tuyên bố “Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử của Chúng Tôi”. Theo các luật gia và chuyên viên hải học trên thế giới, thuyết Biển Lịch Sử của Đế Quốc La Mã và Đế Quốc Đại Hán đã lỗi thời và lạc hậu.

Kể từ 1982, vấn đề Biển Lịch Sử đã được giải quyết chung thẩm bởi Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:

“Tòa Án Quốc Tế The Hague định nghĩa “Biển Lịch Sử là Nội Hải, nghĩa là vùng biển tọa lạc trên đất liền về phía bên trong đường cơ sở (ranh giới) của Biển Lãnh Thổ. Theo Tòa Án Quốc Tế: “Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo (như Phi Luật Tân hay Nhật Bản), Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ”. (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway, 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).

Vì vậy Biển Nam Hoa chỉ được coi là ngoại hải, chạy từ bờ biển Trung Hoa đến bờ biển Nam Dương, và rộng tới 2000 cây số. Lẽ dĩ nhiên nó không phải là Biển Lịch Sử hay Thềm Lục Địa của Trung Hoa.

Ba Mươi Năm Sau: Đổi Mới hay Chiến Thuật Giai Đoạn?

Một vấn đề thời sự đáng lưu ý là Thứ Sáu tuần qua 14-12-2012 Trung Quốc đệ nạp Liên Hiệp Quốc hồ sơ đăng ký chủ quyền tại Đông Trung Quốc Hải (biển Hoa Đông) nhân vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo Điếu Ngư (Diaoyu) hay Senkaku tiếp giáp Okinawa của Nhật Bản.

Trong vụ này Bắc Kinh viện dẫn Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển đòi chủ quyền lãnh thổ Điếu Ngư vì cho rằng đảo này tọa lạc trong Thềm Lục Địa 200 hải lý tại Biển Hoa Đông. Điểm đặc biệt là trong suốt thời gian 3 thập niên (từ tháng 12-1982 là ngày Trung Quốc ký Công Ước đến tháng 12-2012 là ngày đăng ký chủ quyền hải đảo) chưa bao giờ Trung Quốc thừa nhận, tôn trọng hay thi hành Công Ước. Kể cả trong hồ sơ nạp Liên Hiệp Quốc hồi tháng 5-2009 để tường trình về Thềm Lục Địa Địa Chất (Geological Continental Shelf) hay Thềm Lục Địa Mở Rộng (Extended Continental Sh0elf), Bắc Kinh đã lầm lẫn Thềm Lục Địa tính theo các tiêu chuẩn về khoa học kỹ thuật (chỉ rộng từ 370 đến 650 cây số) với Hải Phận vẽ theo Đường Lưỡi Bò Chín Đoạn rộng tới hai ngàn cây số, từ bờ biển Quảng Đông đến các bờ biển Borneo, Sarawak và Palawan.

Với sự chấp chính của Tập Cận Bình, tự nhận là đại diện cho phe đổi mới, đại chúng hóa và hiện đại hóa, những người am tường sách lược Cộng Sản vẫn hoài nghi không biết Bắc Kinh có thực sự đổi mới hay không. Vì đây rất có thể chỉ là một chiến thuật giai đoạn nhằm tranh thủ nhân tâm về đối ngoại và thỏa mãn tự ái dân tộc về đối nội. Điểm rõ nét nhất là hiện nay Trung Quốc muốn phát động mặt trận pháp lý như một mục tiêu lạc hướng nhằm xoa dịu những bất mãn của quần chúng và những khó khăn nan giải của chế độ. Như Mao Trạch Đông đã từng đưa ra khẩu hiệu giả tạo “Giải Phóng Đài Loan!” sau những hậu quả tai hại của Chiến Dịch Bước Nhẩy Vọt với trên 30 triệu nông dân bị chết oan trong những trận đói nhân tạo từ cuối thập niên 1950 do tham vọng điên khùng của họ Mao.

Chính Quyền Hà Nội Phải Làm Gì?

Đây là một cơ hội thuận tiện cho Nhà Cầm Quyền Hà Nội vận dụng thủ tục đăng ký, trọng tài hay tố tụng để đòi Bắc Kinh phải tuân hành Điều 76 Luật Biển quy định các quốc gia duyên hải như Việt Nam có chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu tại Thềm Lục Địa Việt Nam, tối thiểu 200 hải lý Thềm Lục Địa Pháp Lý (trùng điệp với Vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá EZZ: Exclusive Economic Zone). Ngoài ra còn có Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng từ 200 đến 350 hải lý. Theo Công Pháp Quốc Tế, từ năm 1925, với các phúc trình của Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempf, đến năm 1995 của các Luật Sư Covington và Burling (tháng 6-1995), của Học Giả Valencia (tháng 10-1995) và của người viết bài này (tháng 7-1995), miền đáy biển Hoàng Sa Trường Sa có rất nhiều triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa cho hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng. Trong trường hợp này toàn thể các hải đảo tại Hoàng Sa và phần lớn vùng biển Trường Sa đều thuộc Chủ Quyền Tuyệt Đối và Đặc Quyền Chuyên Hữu của Việt Nam, dầu không còn chiếm cứ một số hải đảo.

Chiếu các Điều 76, 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, và Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc bất cứ sự chiếm cứ võ trang nào của ngoại bang tại Thềm Lục Địa đều vô giá trị và vô hiệu lực. Như sự chiếm cứ của Nhật Bản tại các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa thời Thế Chiến II. Từ tháng 4-1956 đến tháng 1-1974, và từ tháng 3-1988 đến nay, tất cả những sự chiếm cứ của Hải Quân Trung Quốc tại Hòang Sa Trường Sa đều do bạo động võ trang nên không được thủ đắc chủ quyền chiếu Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Kết luận

Trong trường hợp Bắc Kinh yêu cầu Liên Hiệp Quốc áp dụng Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cho vụ tranh chấp tại các đảo Điếu Ngư trong Biển Đông Trung Quốc thì họ cũng phải tôn trọng và áp dụng Điều 76 Luật Biển cho các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông Nam Á.

Và Như Vậy Là Công Lý.

Vấn đề là hiện nay các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có còn nhất điểm lương tâm đứng lên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia?

Hay trái lại họ chỉ là những tay sai khiếp nhược chịu cúi đầu khom lưng cam tâm làm chư hầu cho bọn Bành Trướng Bá Quyền Phương Bắc. Để được vinh thân phì gia và bị mang tiếng xấu đến muôn đời (di xú vạn niên).

Quốc dân Việt Nam nóng lòng chờ đợi thái độ và hành động của Đảng Cộng Sản.

Thời gian cấp bách không cho phép họ chậm trễ nữa!

Dầu sao cũng hy vọng rằng đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho họ đái công chuộc tội.

Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG
Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền
Trung tuần tháng 12-2012

Switch mode views: