| Một người bạn tri kỷ của cụ Nguyễn Hiến Lê |
|
|
|
| Tác Giả: Đào văn Khởi | |||
| Thứ Năm, 28 Tháng 7 Năm 2011 19:48 | |||
|
Không hiếm tình tri kỷ trong đời; tìm bạn trăm năm thành tri kỷ khó hơn nhiều. Khó nhất, hiếm nhất là quan hệ Quân-Thần thành tri kỷ ........
Chừng ấy bài viết đủ thấy ông trọng bạn dến dường nào! Nguyễn Hiến Lê viết về mối tương giao giữa hai người:”Ông cho tôi là tri kỷ của ông khi tôi bảo ông có truyền thống nhà Nho, chỉ thích dạy học( lúc đó ông dạy ở Văn khoa Sài Gòn), truyền lòng yêu tiếng Việt cho những thanh niên tuấn tú; tôi cũng nhận ông là tri kỷ của tôi khi ông nghe tin đồn người ta mời dạy Đại học văn khoa Sài gòn, vội vàng sánh sớm từ trong Gia Định lại đường Kỳ Đồng để khuyên tôi đừng nhận vì mất thì giờ lắm, “thì giờ của bác quý hơn tôi nhiều…”. Ghi nhận tài năng của ban, ông viết:”Đông Hồ thật là một nghệ sĩ từ tính tình, lối sống tới tài năng: thơ văn chải chuốt trang nhã, bóng bẩy, phong lưu nhưng it cảm; chữ Hán nét tươi như múa, vẽ mai thì tôi chắc ở nước mình không có ai hơn. Ông trắng trẻo, nhỏ, thấp, nho nhã,vẻ hơi yếu đuói, đúng là một thư sinh thời cổ”.Thật là một bức chân dung sinh động hiếm thấy.Cũng trong Hồi Ký ông viết về Hư Chu ”Đông Hồ mất năm 1969 thì bốn năm sau Hư Chu mất mởi 60 tuổi. Dược tin tôi cũng xúc động viết ngay một bài kể cuộc đời, sự nghiệp văn thơ của ông.bài đó đăng trên Bách Khoa,ngắn mà đầy đủ, các bạn văn cho là cảm động Ông(HC) làm thơ ít mà hay, viết kĩ, điêu luyện theo một lối riêng…và cũng thích dạy học.Được bạn bè, học trò đều mến, tính tình hiền lương, thành thực , nhã. Đông Hò là một nghệ sĩ phong lưu theo lối cổ; Hư Chu cũng là một nghệ sĩ lối cổ nhưng bình dân hơn, kiểu một ông đồ thích uống trà, đánh tổ tôm, chơi non bộ, trồng cây, nuôi chim, gà.
Vô định Ta lại ra đi… đời lang thang,
“Tâm tư bất năng ngôn, Trải mấy thu làm khách bốn phương Rồi cuộc tao ngộ tiền định giữa hai người: ” Nhờ cuộc di cư đó mà tôi được gặp ông. Hồi đó tôi đã được đọc tập Cô độc gồm một số truyện ngắn của Lố Tấn, ông tuyển rồi dịch, nhà Châu Á xuất bản ở Hà Nội 1954. Biết vốn Hán tự của ông, nhất là bạch thoại, hơn tôi nhiều, tôi đề nghị với ông cùng viết bộ Đại cương Triết Học Trung Quóc, ông nhận lời, và chúng tôi hợp tác với nhau vè cổ học Trung Quốc cho tới ngày giải phóng.Sự hợp tác đó rất vui và có lợi cho cả hai. Nhờ có ông, tôi mới mạnh bạo tiến vào khu vực đó, và nhờ tôi thúc đẩy, từ đó ông mới sáng tác mạnh…Chúng tôi nhận định giống nhau (trong hợp tác biên khảo), biết châm chước ý kiến của nhau và cùng có lương tâm như nhau.Tôi nghĩ nếu không gặp ông thì công việc nghiên cứu cuả tôi đã theo một hướng khác, và không hợp tác với ông thì tôi không thể hợp tác với người nào khác trong nghành cổ học Trung Quốc; còn ông cũng nhận rằng trước khi gặp tôi ông không có ý bước vào khu vực đó. Thật là một duyên tiền định, có lẽ chưa hề thấy trong văn học sử nước nhà từ đầu thế kỷ đến nay. Ông cho tôi là bạn tương tri của ông, có lần gởi cho toi hai câu này: Nhớ đâu thuở ấy “xào”Trung triết Tôi cũng coi ông là bạn tương tri, khi có người bàn với ông giới thiệu về Giải tuyên dương sự nghiệp, ông gạt đi:” Bác ấy không chịu đâu; đừng giới thiệu”(**) Trước đó chúng tôi đã từ chối Giải thưởng văn chương toàn quốc về bộ Đại cương Triết học Trung Quốc” Còn nghệ sĩ tính và thi tài của Giản Chi, Hồi ký viết”(Ông) tính tình hào hoa, phong nhã, thích hoa, rượu. nhạc. Chỉ khi nào thật hứng ông mới làm thơ. Thơ ông có giọng lãng mạn của thời đó, nhưng không sươt mướt mà haò hùng. Thơ ông tôi thích hơn thơ Đông Hồ, Đông Xuyên, Quách Tấn, vì có nhiều thể (cả mới lẫn cũ), nhiều giọng,đa số là cảm khái, khi thì buồn ủ ê, khi thì trầm hùng, lại có lúc thanh thoát. Thỉnh thoảng có hình ảnh mới và thỉnh thoảng cũng dùng điển cầu kì. Mỗi giai đoạn, mỗi biến cố lớn trong đời ông đều đựợc phản ánh trong tập “Tấc Lòng”- tâp thơ ghi lại tâm tư của ông từ trẻ tới già”
-Tốt,đẹp như tiếng hay trong câu 545: Gìn vàng giữ ngọc cho hay -Biết, nhận biết, hiểu biết,sành, thạo việc: như tiếng hay trong câu 743; Trông ra ngọn cỏ lá cây Hiểu biết về rượu, sành rượu. thạo việc chén tạc,chén thù là hay rượu đấy.Và không gì thú vị hơn là chúng ta trực tiếp đọc những bài thơ của Thi Ông Giản Chi viết về rượu. Tấc Lòng là tập thơ duy nhất của Giản Chi. Trên 80 bài (vừa sáng tác,vừa dịch thơ chư Hán), là tập ghi lại tâm tư của tác giả từ lúc trẻ tới tuổi vãn niên.Có đến 7 bài thơ nói đén Rượu.trong Tâc lòng xin trình ra đây.
Một buồng xuân ấm, tình xuân mới Chén rượu tống biệt Tiếc thương là kiếp con người
Bè Say Bến Vàng Dòng đời($) khôn đỏi làm sông rượu, Bát Rượu Chia tay
Với Triều Sơn Ớ ai giong đuốc tìm người! Mưa phùn Nhà văn Nguyễn Công Hoan kể chuyện hòi bé khoảng 9,10 tuổi có thời gian sống gần nhà thơ Tản Đà, thỉnh thoảng được ông sai vặt. Khi thì nhờ mua vài tệp giấy, lúc khác mấy tháp bút. Ông khen bé Hoan nhanh nhẹn ý tứ, ông cho xem thơ của ông thấy sáng dạ,ông bảo thằng bé tương lai sẽ làm nên. Về sau quả Tản Đà tiên tri. Nguyễn Công Hoan còn kể trong số nhà văn trẻ, lớp con cháu, chỉ Nguyễn Tuân được Tản Đà xem như bạn,vì ngoài tài năng Nguyễn Tuân còn có thể chịu chiếu(#) với nhà thơ Núi Tản Sông Đà từ sáng tới tối.
1.Nguyễn Hiến Lê Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê (NXB Văn Học 1993) (**)Báo Tiền phong của chính quyền (SG cũ) ngày 20.1.1973. Mục tạp ghi-về giải Tuyên dương Văn Học, Nghệ thuật năm nay(…).Về nghành biên khảo ở Việt Nam hiện tại, người mà tôi cho là có công nhất phải kể đến Nguyễn Hiến Lê. Nhưng vì một lẽ nào đó, ông không muốn nhận, Thật là một sự đáng tiếc. Nếu không có ông nguyễn Hiến Lê, ông Thu Giang (nguyễn duy Cần) nhận vinh dự trên cũng là một điều ổn thỏa.(…) Kí giả LÔ RĂNG Đúng như ông Lô Răng viết tôi(NHL) không muốn nhận giải. Năm đó ông Mai Thọ Truyền làm Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa, ông Nguyễn Duy Cần là cánh tay mặt ông Truyền, ông Giản Chi ở trong ban tuyển trạch. Ông Đông Xuyên, bạn chung của ông Giản chi và tôi,bàn với ông giản Chi giới thiệu tôi dự thi giải Tuyên dương, ong Giản Chi gạt đy, bảo:” Bác ấy không nhận đâu, đừng giới thiệu” Cũng vào khoảng đó, ông Lê Ngộ Châu và ông Võ Phiến ở tạp chí Bách Khoa, lại chơi vào một buổi chiều (trong khi tôi đang tiếp ông Từ Mẫn, Giám đốc nhà xuất bản lLá Bối) và cũng ngỏ ý muốn giới thiệu tôi. Trước mặt ôngTừ Mẫn, tôi đáp: Cảm ơn các anh, nhưng thế là tôi phải ký vào phiếu giới thiệu của hai anh. Tôi không muốn tranh với ai cả, không chịu ký đâu. Tôi không muốn nhận một số tiền nào của chính phủ này hết. Giải thưởng đó là một triệu đồng mà giá vàng hồi đó khoảng 40.000 đồng một lượng. Từ Văn Học Việt Nam nơi miện đất mới-T2- tác giả Nguyễn Q. Thắng viết: Giản Chi(1905-2005): Nhà Văn, nhà nghiên cứu Triết học, tên thật là Nguyễn Hữu Văn,quê làng Hạ Yên Quyết (làng Cót), là một trong bốn làng có nhièu vị đại khoa với câu phương ngữ” Mỗ La Canh Cót Từ liêm tứ quý” tưc bốn làng Mỗ Đầm, La Khê, Phương Canh, Yên Quyết.(Cót) của huyện Từ Liêm tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội), thường trú tại đường Hoàng Diệu (nay thuộc Quận 4 TP. HCM) Năm sinh thật cuả ông là năm 1904 nhưng hồi còn nhỏ theo học chữ Hán, lớn llên theo Tây học, phải khai sinh lại cho nhỏ tuổi để thi lấy bằng Thành chung.nên ghi là năm1905. Sau đó vào học trường Cao đẳng công chánh Hà Nội, tốt nghiệp ông làm việc tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu.,Hải Dương… Năm 1950 ông hồi cư về Hà Nội, rồi vào Sài Gòn làm việc trong nghành bưu điện. Năm 1965 ông được mời dạy tại Đại Học Văn Khoa, Sư Phạm Sài Gòn và Huế chuyên trách các môn: Triết học Trung Quốc, văn học Hán Nôm Ngoài việc giảng dạy, Giản Chi để cả đời mình vào việc ngiên cứu văn học, triết học, nhất là triét học cổ đại và văn chương hiện đại Trung Quốc. Ông là một trong hai người Việt Nam đầu tiên (ông và Đặng Thai Mai) giới thiệu Lỗ Tấn sớm nhất ở nước ta. Ngay từ những năm 50, bản dịch Tuyển tập Lỗ Tấn của ông được công bó trên các tạp chí ở Hà Nội. Những năm 60 thơ văn và cuọc đời Lỗ Tấn được tiếp tục ccông bố ở Sài Gòn.Giản Chi là người duy nhất giới thiệu đầy đủ Lỗ Taán nghiêm cẩn nhất ở Sài Gòn trước đây. Do thành quả lao độngcần cù của mình trong nghiên cứu, sáng tác, giảng dạy…ông được giới trí thức,văn nghệ sĩ quý mến.Và cũng nhân đó chính quyền Sài gòn cũ đã tặng Ông một giải thưởng văn chương cao quý với một ngân phiếu lớn (tương đương hàng chục lượng vàng), nhưng ông đã công khai khước từ (cùng với Nguyễn Hiến Lê), với lý do ”dùng tiền ấy giúp đỡnạn nhân chiến tranh”. Sau 1975 ông vẫn dạy ở Đại học Tỏng Hợp TP HCM (Đại hoc Văn khoa Sài gòn cũ) và cộng tác với các tổ chức văn hóa tại TP.HCM. Đến năm 1977, ông mới nghỉ hưu. Các tác phẩm: _ Dịch LỗTấn(1950, Ha Nội)
|
BÀI MỚI ĐĂNG
| Vì sao tượng nữ đấu sĩ La Mã có tư thế kì lạ? Saigon Echo sưu tầm | |
| Phượng Sài Gòn Tiếng hát Trường Vũ | |
| Một Ngày Cho Việt Khang Lệ Khanh & Từ Phong | |
| Ðại học luật UC Hastings giảm sĩ số, chuyển hướng mới Lê Tâm (theo USA Today) | |
| Quần áo Trung Quốc ế, tuồn vào Việt Nam tiêu thụ Người Việt | |
| Điểm Báo Pháp Quốc Ngày 20-05-2012 Mai Vân | |
| Thượng đỉnh NATO mở ra tại Chicago với trọng tâm hồ sơ Afghanistan Trọng Nghĩa | |
| G8 kết thúc với thỏa thuận về tăng trưởng nhằm trấn an thị trường Thụy My | |
| Hoa Kỳ và ASEAN thảo luận về vấn đề an ninh, trước mối đe dọa Trung Quốc Thụy My | |
| Luật sư mù làm sáng mắt thế giới Ngô Đình Thu | |
| Anh là ai? | |
| Thư Không Niêm gửi Bạn Trần Văn Lương | |
| Văn hóa “nói thách” Blog Cánh Cò | |
| Quan Điểm của Ông Ngô Đình Nhu về Hiểm Họa Xâm Lăng của TQ Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu | |
| Phân Ưu Gia Đình Cảnh Sát QG |
somedaysoon






